KIẾN TRÚC TÂM LINH

Kiến trúc tâm linh với: Giới thiệu đảo Vạ Chùa; Giới thiệu Viện Bảo tồn Di tích; Trao đổi tìm hiểu di tích đền Ngọc Sơn; Dự án khu du lịch sinh thái tâm linh Chùa Linh Ứng; Gặp gỡ Mr Doãn Thi con trai Nhà thơ Doãn Tùng tức Thanh Tùng; Nhóm bút Haiku Đất Cảng qua bốn năm hoạt động; Nghệ thuật kiến trúc, xây dựng tại các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo thời Mạc; Nghệ thuật chạm khắc, tạc tượng tại các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo thời Mạc; Họp BBT Nội san Haiku Việt; Trao đổi tìm hiểu về khu Di tích Chùa Thầy.

 

Giới thiệu đảo Vạ Chùa

Đảo Vạ Chùa thuộc quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải thành phố Hải Phòng. Theo ông Quốc Hưng- đại diện chủ đầu tư cho biết: Khu du lịch sinh thái tâm linh đảo Vạ Chùa rộng 400 ha, từ cảng trung tâm đảo Cát Bà đi cano ra tới đảo Vạ Chùa mất khoảng 5 phút. Trên đảo có ngôi chùa cổ mang tên Ling Ứng được xây dựng khoảng hơn 400 năm trước đây. Được phép của UBND TP Hải Phòng, sự tham gia của Sun Group trong đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái tâm linh Chùa Linh Ứng, Đảo Vạ Chùa sẽ tạo thêm cơ hội và điều kiện để quần đảo Cát Bà phát triển du lịch mạnh mẽ hơn nữa. Với mơ ước trồng 10 vạn cây hoa gạo đỏ, lễ hội Hoa gạo đỏ trong tương lai trên đảo Vạ Chùa sẽ trở lên độc đáo thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế. Công tác thiết kế kiến trúc cảnh quan và thi công xây dựng trên đảo Vạ Chùa hiện đang diễn ra hết sức sôi động khẩn trương. Những hạng mục ban đầu đã và đang hình thành trên khu du lịch sinh thái tâm linh Chùa Linh Ứng, Đảo Vạ Chùa trong quần thể đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, TP Hải Phòng.

 

Giới thiệu Viện Bảo tồn Di tích

Viện Bảo tồn Di tích tọa lạc tại số 489, đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. Viện trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; có chức năng nghiên cứu, thực hiện các đề án khoa học công nghệ và tư vấn trong lĩnh vực bảo tồn di tích trên phạm vi cả nước. Viện có nhiệm vụ: Nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học để Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch hoạch định chiến lược, cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch bảo tồn di tích.Thẩm tra các dự án, thiết kế bảo tồn di tích theo yêu cầu của các tổ chức, làm cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Lập các dự án quy hoạch bảo tồn, trùng tu các di tích quốc gia đặc biệt; Tư vấn khảo sát, lập dự án, thiết kế, thẩm tra, giám sát kỹ thuật, quản lý dự án bảo tồn, trùng tu di tích và các công trình văn hoá; Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về bảo tồn, trùng tu di tích; Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học bảo tồn, trùng tu di tích; Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học chuyên ngành bảo tồn di tích. Các tổ chức trực thuộc: Trung tâm Tư vấn bảo tồn di tích; Trung tâm Kỹ thuật, công nghệ bảo tồn di tích; Văn phòng Đại diện tại Thành phố Huế.

 

Trao đổi tìm hiểu di tích đền Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn được xây trên đảo Ngọc Sơn có diện tích 2.067 m2. Cùng với Hồ Gươm và Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn đã tạo nên một quần thể hoàn chỉnh đẹp đẽ. Quần thể này đã trở thành một trong những biểu tượng đặc trưng nhất cho Hà Nội ngày nay. Đền Ngọc Sơn là một trong những công trình thể hiện quan niệm “Tam giáo đồng nguyên” của người Việt khá rõ nét, đó là sự hỗn dung của Đạo Giáo, Đạo Phật, Đạo Nho. Sự dung hòa: Đạo, Phật, Nho, không chỉ thể hiện ở việc thờ cúng mà còn biểu lộ đậm nét trong kiến trúc, xây dựng cũng như hệ thống các câu đối, hoành phí, vật bài trí ở đền Ngọc Sơn. Người dân đến với đền Ngọc Sơn xử sự một cách tự nhiên, hòa thuận mà không phân biệt đâu là Phật, là Đạo, là Nho. Tôn giáo nào, thần thánh nào đêm đến niềm tin tốt đẹp vào cuộc sống thì đều được người dân thờ phụng. Đó chính là tâm linh của người Việt Nam khi dung hòa các tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Dự án khu du lịch sinh thái tâm linh Chùa Linh Ứng

Dự án khu du lịch sinh thái tâm linh Chùa Linh Ứng trên đảo Non Chùa, còn gọi là Vạ Chùa thuộc quần đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, TP Hải Phòng. Dự án gồm các hạng mục: 1/Khôi phục ngôi chùa sưu tầm hệ thống tượng thờ, đồ thờ cũ gợi nhớ quá khứ của chùa Linh Ứng, đồ vật xưa như cối đá cối xay; 2/Xây dựng đại điện có quy mô lớn 800m2 để phục vụ tín ngưỡng hình chữ công, khung cốt bằng gỗ nhóm tứ thiết, chồng rường theo kiểu dáng chùa truyền thống miền Bắc, mái ngói mũi hài, với 96 cây cột gỗ lim, các góc mái được vuốt thành góc đao mềm mại, nội thất thờ tự gồm hệ thống tượng Phật, hoành phi, câu đối, cửa võng, án thờ, cửa bức bàn theo lề lối thờ tự truyền thống; 3/Xây dựng thiền đường lớn 2.000 m2 để phục vụ tu tập cho một vài nghìn Phật tử và nhân dân tham gia tu tập theo chính pháp; 4/Kiến tạo một số am thất tu tập trong các khuôn viên tương đối độc lập, là nơi để chư Tăng và các hành giả thực hiện các thời khóa hạ thủ công phu tu tập, giải quyết những mắc mứu trong tâm thức và nghiên cứu sâu sắc kinh điển Phật giáo; 5/Dựng các bonsai, tượng đài tạo cảnh quan hài hòa với thiên nhiên, phục vụ chiêm bái, ngắm cảnh, tham quan du lịch và tạo ấn tượng tâm linh tốt lành cho thập phương du khách về nghỉ dưỡng tham quan tại quần thể du lịch Cát Bà; 6/Kiến tạo vườn rừng sinh thái, thu thập và trồng nhiều giống loại cây cảnh, cây ăn quả phù hợp, nuôi thả tự nhiên một số loại chim thú, tạo nên sự hài hòa với thiên nhiên, giáo dục tình yêu muôn loài, bảo vệ môi trường, thân thiện với tự nhiên; 7/Xây dựng Thạch Thư Viên- Vườn sách đá, đây là điểm nhấn quan trọng của quần thể chùa Linh Ứng, với trên 3.000 phiến đá tự nhiên, trong khung cảnh hài hòa với tự nhiên, tạc lên 3.000 bài thơ, khổ thơ, châm ngôn, ca dao, tục ngữ, lời hay ý đẹp được chọn lọc từ kho tàng văn hoá Việt Nam và Thế giới thể hiện trong Thạch Thư Viên sẽ là những kho tư liệu văn học quý báu lưu truyền mãi mãi cho các thế hệ mai sau, góp phần khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương giống nòi, truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam, đây sẽ là bộ sách đá đồ sộ nhất, phong phú nhất cả về số lượng, qui mô và hình thức, Thạch Thư Viên hay có thể gọi là Văn hoá Linh Ứng, nét đặc trưng văn hoá dân tộc kết hợp với văn hoá tâm linh.

 

Gặp gỡ Mr Doãn Thi con trai Nhà thơ Doãn Tùng tức Thanh Tùng

Ngày 12/8/2020, theo lịch hẹn trước, tôi đã có chương trình giao lưu gặp gỡ Mr Doãn Thi con trai Nhà thơ Doãn Tùng tức Thanh Tùng. Bao hồi ức về Nhà thơ Thanh Tùng hiện về trong câu chuyện của chúng tôi. Nhà thơ Thanh Tùng sinh ngày 7/11/1935 tại Nam Định, lớn lên và trưởng thành tại Hải Phòng. Các bài thơ nổi tiếng của ông đều viết về Hải Phòng, phản ánh đậm đặc tính cách người Hải Phòng; Trong đó bài thơ “Thời hoa đỏ” được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc trở thành bài hát nổi tiếng. Thanh Tùng làm nghề khuân vác trên bến cảng Hải Phòng, sau đó chuyển sang làm công nhân đóng tàu. Có thời gian dài ông làm nghề áp tải. Năm 1997, ông được cử làm đại diện của Việt Nam sang Hy Lạp đọc thơ với đại biểu các nước. Năm 2001, Thanh Tùng mới xuất bản tập thơ đầu tiên cho riêng mình mang tên Thời hoa đỏ- NXB Văn học, được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2002. Bài thơ “Hà Nội ngày trở về” của Thanh Tùng được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc cùng 2 bài thơ khác của ông là “Người về” và “Mùa thu giấu em”. Các tác phẩm của Thanh Tùng: Thời hoa đỏ (tập thơ, 2001), Con sông chảy từ lòng phố, Cửa sóng, Trường ca Phương Nam, Gió và chân trời (NXB Hải Phòng, 1985), Khúc hát quê xa, (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004), Cái ngày xưa ấy (NXB Đà Nẵng, 2004), Thuyền đời (NXB Đà Nẵng, 2006). Nhà thơ Thanh Tùng mất ngày 12/9/2017 tại TP Hồ Chí Minh.

 

Nhóm bút Haiku Đất Cảng qua bốn năm hoạt động

Nhóm bút Haiku Đất Cảng trực thuộc CLB Thơ Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp- Hải Phòng được ra mắt vào ngày 4/11/2016; Ban đầu Nhóm bút có hơn 10 haijin; Qua bốn năm hoạt động, hiện nay Nhóm bút Haiku Đất Cảng đã có hơn 20 haijin chính là hội viên CLB Thơ Việt Tiệp yêu thích tìm hiểu và sáng tác thơ Haiku Việt; Trong bốn năm qua, Nhóm bút Haiku Đất Cảng đã tư vấn cho BCN CLB Thơ Việt Tiệp và Lãnh đạo Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp tổ chức thành công cuộc thi thơ ba câu năm 2016; Tổ chức thành công cuộc thi sáng tác thơ Haiku Việt lần thứ nhất- Hải Phòng 2017; cuộc thi sáng tác thơ Haiku Việt lần 2- Hải Phòng 2018. Hiện nay Nhóm bút Haiku Đất Cảng đang tư vấn cho CLB Thơ Việt Tiệp và Lãnh đạo Cung Văn hóa LĐHN Việt Tiệp tổ chức cuộc thi sáng tác thơ Tanka 5 câu 2019- 2020, trao giải vào tháng 12/2020. Để nâng cao chất lượng sáng tác thơ Haiku, các nhà thơ- haijin nhóm bút Haiku Đất Cảng dành thời gian nghiên cứu chuyên sâu hơn trong việc sáng tác thơ Haiku. Nhóm bút đã tổ chức được một Tọa đàm Thơ Haiku, nghe diễn giả là các nhà thơ haijin: Đinh Nhật Hạnh, Lê Đăng Hoan, Cao Ngọc Thắng… nói về công việc sáng tác thơ Haiku. Nhóm bút Haiku Đất Cảng cũng gặp gỡ giao lưu với các nhà thơ haijin đến từ các vùng miền: Hà Nội, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Vĩnh Phúc, TP Hồ Chí Minh; Lâm Đồng, Huế, Bạc Liêu… Năm 2016, Nhóm bút Haiku Đất Cảng có 4 hội viên đạt giải cuộc thi sáng tác thơ 3 câu; Năm 2017, Nhóm bút Haiku Đất Cảng có 5 hội viên đạt giải thi sáng tác thơ Haiku Việt lần thứ nhất; Năm 2018, Nhóm bút Haiku Đất Cảng có 7 hội viên đạt giải cuộc thi sáng tác thơ Haiku Việt lần thứ hai. Nhà thơ haijin Minh Trí- trưởng nhóm đã tham gia CLB Haiku Việt và Hiệp hội Haiku Thế giới WHA, quản trị trang web haikuviet.com. Trong năm 2017, haijin Minh Trí đã đến thăm Am Basho tại Tokyo Nhật Bản, tại đây anh đã có buổi trao đổi tìm hiểu về sự nghiệp sáng tác thơ Haiku của Basho- người tiên phong khởi xướng thể loại thơ Haiku của Nhật Bản, hiện đã lưu truyền ở hơn 100 nước trên Thế giới trong đó có Việt Nam. Trong năm 2020, Bút Nhóm Haiku Đất Cảng mong muốn tập hợp thêm được các hội viên là các tác giả yêu thích tìm hiểu và sáng tác thơ Haiku; Tổ chức các buổi sinh hoạt, tọa đàm về thơ Haiku; Động viên hội viên tích cực gửi bài tham dự cuộc thi sáng tác thơ Tanka 5 câu; và gửi bài đăng tải trên trang web haikuviet.com cũng như Nội san Haiku Việt. Tổ chức giao lưu với các CLB Thơ Haiku ở các tỉnh thành trên toàn quốc. Qua đó nâng cao chất lượng sáng tác, hòa nhập cùng các nhà thơ haijin hiện đang sáng tác thơ Haiku trên Toàn quốc và Thế giới.

 

Nghệ thuật kiến trúc, xây dựng tại các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo thời Mạc

Phật giáo có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, du nhập vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ nhất trước công nguyên. Trải qua hơn 2000 năm gắn bó với dân tộc, tuy có nhiều bước thăng trầm ở các giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng Phật giáo đã trở thành một cơ cấu xã hội ở nước ta, có bước phát triển lớn mạnh, đóng góp tích cực cho sự nghiệp dựng nước, bảo vệ và xây dựng đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đồng hành cùng dân tộc. Phật giáo dưới thời nhà Mạc đã kế thừa các thời đại trước, tiếp tục phát triển, thấm sâu vào cộng đồng xã hội, có những nét đặc trưng riêng. Đây là thời kỳ có sự tham gia hưng công đóng góp của tầng lớp quan lại, những người giàu có, quyền thế vào các công trình tín ngưỡng như chùa, quán đạo, đền, miếu, nên số lượng các kiến trúc này mọc lên nhiều và chất lượng công trình được nâng cao. Vừa qua theo thống kê đã có 195 công trình kiến trúc được xây dựng mới, trùng tu, trong đó có 142 ngôi chùa, 12 ngôi đình, 7 quán đạo, 8 đền, miếu, các văn bia. Các di tích này phân bố ở hầu khắp các tỉnh thành Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Ninh Bình, Nam Hà, Thanh Hóa và Thái Bình. Trong các vật liệu xây dựng thời Mạc phải kể đến tiêu biểu là các loại gạch rất tốt được sử dụng phổ biến và xây, ốp ở mọi vị trí kiến trúc như xây thềm, ốp bệ thờ, tiền đường, hậu đường, nóc mái, tường, với nhiều loại hình khác nhau trong kiến trúc. Do có sự tham gia hưng công đóng góp của tầng lớp quý tộc quan lại, các công trình kiến trúc Phật giáo có chất lượng tốt. Nhà Mạc giúp dân trùng tu hay xây dựng nhiều đình miếu, chùa quán, làm giàu cho văn hóa dân gian Đại Việt. Đình làng, với tư cách là một trung tâm hành chính và nơi sinh hoạt văn hóa, tâm linh của cộng đồng làng, xã đã phát triển mạnh dưới thời nhà Mạc. Trong giai đoạn thịnh trị, ngoài kinh đô Thăng Long, Mạc Đăng Dung còn xây dựng Dương Kinh trên quê hương mình với hệ thống cung điện, lầu các đồ sộ như Các Dương Tự, điện Tường Quang, Phúc Huy, phủ Hưng Quốc, đồn binh, kho lương và cả một trường Quốc học song song với Quốc Tử Giám tại Thăng Long. Khác với cung điện Tức Mặc, thời Trần; hay Lam Kinh, thời Lê sơ chỉ là nơi nghỉ ngơi, thờ tự của vua chúa, Dương Kinh là trung tâm kinh tế, chính trị và là kinh đô cảng sầm uất. Dương Kinh vừa có cả cung điện, lăng tẩm, chùa chiền, vừa mang tính chất một đô thị ven biển xứ Đông đầu tiên ở Việt Nam. Ở Dương Kinh, nhà Mạc cho xây một số thương cảng làm nơi giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước như phố Lỗ, Minh Thị, An Quý, Do Nha, đồng thời tôn tạo nhiều di tích đền chùa ở Cổ Trai và các vùng lân cận. Kiến trúc dân gian thời Mạc trong các công trình Phật giáo được trang trí nhiều hoa văn ở nhiều vị trí khác trong kiến trúc như thềm, nền, bệ thờ, xây tường, bờ nóc mái. Thời kỳ này các công trình chùa thờ Phật được xây rất nhiều. Hình ảnh bông hoa sen trang trí trong những ngôi chùa thời Mạc tuy có cách điệu nhưng vẫn mang dáng dấp của ngôi chùa Phật giáo thời Trần- Hồ. Sự phát triển của kiến trúc xây dựng thời Mạc trùng hợp với sự phát triển của kiến trúc dân gian trong thế kỷ 16. Xã hội thời Mạc là một xã hội có nội chiến phe phái Nam Bắc triều, phía Bắc là nhà Mạc, phía Nam  là nhà Lê Trung Hưng với sự phò tá của chúa Trịnh. Do mải lo tập trung trí lực và vật lực vào các cuộc nội chiến nên việc quy định đẳng cấp rõ ràng được nới lỏng, Phật giáo có xu hướng phát triển trở lại. Đó chính là điều kiện thuận lợi để kiến trúc dân gian ở các công trình tín ngưỡng Phật giáo ở làng quê phát triển mạnh mẽ.

 

Nghệ thuật chạm khắc, tạc tượng tại các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo thời Mạc

Nghệ thuật chạm khắc, tạc tượng tại các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo thời Mạc phong phú với các hình linh thú và hoa lá cách điệu mang đậm phong cách thời Mạc. Điêu khắc đá thời Mạc tại Dương Kinh có nhiều đề tài chưa từng thấy ở nơi khác như tượng nghê đồng, Quan Âm tọa sơn, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm nghìn tay, nghìn mắt và bộ tượng Tam Thế. Đề tài linh thú gồm hình rồng, chim phượng, cá hóa rồng, hổ, nghê, lân, ngựa, voi, hươu, chim. Đề tài hoa lá gồm hoa mai, hoa sen, hoa lá cách điệu với nhiều biến thể khác nhau. Hình rồng trang trí thời Mạc được thể hiện nổi khối dàn trải đều. Đầu rồng ngẩng cao hướng về phía trước, đầu rõ sừng, mũi to, mồm há to ngậm ngọc, chân rõ bốn móng choãi ngang, thân uốn khúc doãng hơn hình gần chữ U với các đường chỉ nổi. Hình rồng kết hợp hình chim phượng. Hình cá hóa rồng đang bơi đuổi há mồm bắt quả bóng. Sự kết hợp giữa con vật và hoa lá cho thấy sự đa dạng trong nghệ thuật trang trí thời Mạc. Mỹ thuật thời Mạc vẫn tiếp nối các đề tài trang trí thời Lê sơ, vẫn là các đề tài quen thuộc như hình rồng, hoa cúc, hoa mai, tượng nghê, nhưng thời đại mới với những yếu tố mới đã tác động lên thẩm mỹ của thời đại. Sản phẩm gốm sứ thời Mạc khá nổi tiếng, được giao thương với một số nước trên thế giới và có mặt ở 30 bảo tàng châu Âu. Đặc biệt cần nhắc tới một nghệ nhân là Đặng Huyền Thông đã để lại những tác phẩm gốm quý, gồm những chân đèn với các thớt vẽ men màu lam, rồng đắp nổi, trang trí rậm, được coi là điển hình cho quan điểm thẩm mĩ thời Mạc, đậm chất dân gian; cùng những bát hương lớn cùng một thể loại, hiện vẫn còn lưu truyền tại nhiều đền, chùa Bắc Bộ. Toàn bộ các tác phầm của ông đều được phủ một loại men trong, dày và có màu xanh sẫm, đôi khi lẫn màu ghi xám hay ngả vàng. Sử dụng loại men màu lam xám, ông đã kết hợp với các chi tiết được chạm thủng chạm nổi, dán ghép kết hợp với khắc chìm để thể hiện nhiều đề tài phong phú khác nhau. Sự phát triển khá mạnh của Phật giáo cùng với sự biến động của lịch sử đã tác động mạnh mẽ đến mỹ thuật thời Mạc. Nét đặc trưng của mỹ thuật thời Mạc là sự xuất hiện thêm nhiều hoa văn mới như linh vật gần gũi với con người như hươu, voi, hổ, chuột. Các hình tượng trong trang trí được diễn tả hiện thực hơn, hình khối trở lại sự khỏe khoắn, đơn giản. Bố cục trang trí thời Mạc thể hiện tự do thoải mái, ít bị gò bó theo khuôn mẫu. Trang trí hình chim phượng được tạo bằng các đường nét tỉ mỉ và các thủ pháp kỹ thuật như các đường cong nhẹ thể hiện lớp cánh, các đường chạm khắc vát lõm, tỉa nhỏ, tất cả thể hiện rất sinh động và giàu tính hiện thực. Nghệ thuật điêu khắc tượng ở thời Trần- Lê sơ, tượng tròn hầu như tập trung ở làng mộ, thì sang thời Mạc tượng tròn gặp ở nhiều chùa và rất nhiều loại, từ tượng Phật, tượng Quan Âm đến tượng Vua, tượng Hoàng Hậu và các tượng thông thường, chất liệu ở đây là gỗ và đá. Các chùa cổ còn đến nay không thể thiếu được tượng Tam Thế tượng trưng cho 3000 vị Phật. Ngày nay tượng Tam Thế thời Mạc còn gặp ở nhiều ngôi Chùa. Tượng lớn xấp xỉ với người thực, tạo theo những quý tượng của Phật, tóc xoăn, đỉnh đầu nhô nhục kháo, tai dài, ngồi tĩnh toạ trên toà sen, khuôn mặt hơi cúi xuống chúng sinh, mình đẩy đà các mảng khối căng tròn. Đây có thể xem là tượng mẫu cho các thời sau. Mỹ thuật thời Mạc phản ánh sự hòa quyện giữa cung đình và dân gian. Trong đó yếu tố dân gian có xu hướng lấn át yếu tố cung đình và gần gũi hơn với cuộc sống. Các loại hoa văn mang đậm chất dân gian như hình linh thú chuột, voi, hươu, hổ là những con vật gần gũi với con người phổ biến trang trí trong những ngôi chùa làng. Hình rồng và chim phượng vốn là hoa văn trang trí trong cung đình, dưới thời Mạc hoa văn này trở lên thoải mái trang trí cùng với các hoa văn khác và hình linh thú trong các cơ sở tín ngưỡng Phật giáo.

 

Họp BBT Nội san Haiku Việt

Ngày 15/8/2020 tại văn phòng CLB Haiku Việt số 72, ngõ 24 đường Kim Đồng, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; đã diễn ra cuộc họp Ban biên tập Nội san Haiku Việt 2020. Nhà thơ Haijin Đinh Nhật Hạnh- Chủ nhiệm CLB Haiku Việt, chủ trì cuộc họp. Sau khi nghe ý kiến tham gia của các thành viên tham dự cuộc họp, chủ trì đã có những kết luận sau: 1/Cảm ơn các hội viên trong thời gian qua đã nhiệt tình gửi bài tham gia Nội san Haiku Việt 2020, đặc biệt là các CLB và Nhóm Thơ Haiku ở các tỉnh thành: Hà Nội, Khánh Hòa, Hải Phòng, Huế, TP Hồ Chí Minh; 2/Đề nghị các hội viên chưa gửi thơ Haiku đăng nội san, khẩn trương gửi mỗi người một chùm 10 bài haiku cho BTT, email: haikuvietvn@gmail.com, nhathanh.dinh@gmail.com. CLB Haiku Việt có 52 hội viên, hiện có 30 hội viên đã gửi bài, còn 22 hội viên cần gửi chùm thơ Haiku đăng Nội san, hạn cuối cùng nhận bài là ngày 25/8/2020; 3/BBT ký hợp đồng xin cấp phép xuất bản và dàn trang trình bày sách, hoàn thiện bìa, thư pháp, tranh minh họa ở các chuyên mục. Dự kiến ngày 1/9/2020 bắt đầu in sách. Ngày 15/9/2020 sách in xong và phát hành.

 

Trao đổi tìm hiểu về khu Di tích Chùa Thầy

Chùa Thầy thuộc địa phận hai thôn Đa Phúc và Thụy Khê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội. Chùa có tên chữ là “Thiên Phúc Tự”, tên nôm là: Chùa Thầy, Chùa Phật Tích, Chùa Sài, Chùa Cả,… Chùa nằm ở chân núi Sài. Cảnh chùa Thầy đi vào thơ ca dân gian: “Nhớ ngày mùng 7 tháng 3/ Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy”. Đối tượng thờ chính: Phật và thánh Từ Đạo Hạnh. Các hạnh mục công trình trong khu di tích: Khu Chùa Cả; Chùa chính; Tiền đường; Nhà cầu; Điện Phật; Điện Thánh. Các công trình khác: Thủy đình; Nhật- Nguyệt tiên kiều; Gác chuông- gác trống; Nhà tổ; Nhà bia; Hành lang. Các di tích kiến trúc khác: Đền Miếu Tam Phủ; Chùa Cao- Hiển Thụy am; Chùa Một mái- Bối am tự. Theo văn bia Bối am tự- 1571, chùa Thầy đã có từ thời Đinh, ban đầu là một am nhỏ nơi Từ Đạo Hạnh tu hành. Vào cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, chùa được xây dựng và mở mang với qui mô lớn. Dưới thời thuộc Minh (1403- 1424) chùa Thầy bị phá hủy nặng. Năm 1497 vua Lê Hiến Tông đã trùng tu chùa. Năm 1500, 1538, 1570, vua và dân làng đã sửa sang tu bổ chùa. Năm 1602 Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan cho xây lại 2 cầu Nhật- Nguyệt tiên kiều. Năm 1656, bà cung tần Ngọc Liên cúng tam bảo xây chùa. Năm 1666 đại tu chùa. Thế kỷ 18 chúa Trịnh Cương cho tu sửa lớn chùa. Thời Tây Sơn và thời Nguyễn năm 1853 tu sửa chùa. Năm Thành Thái 1890 dựng gác chuông chùa Cao. Trong kháng chiến, chùa Thầy có công che chở cán bộ, Bác Hồ từng về ở tại điện mẫu chùa Một Mái. Sau kháng chiến chống Pháp đến nay, chùa được tu bổ nhiều lần.

MT

 

Bài viết khác

Tác giả: minhtri

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *