Thời sinh viên

THỜI SINH VIÊN

1. Năm thứ nhất
Tháng 10/ 1988, tôi nhập học trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội. Tôi và Toàn_đồng hương Hải Phòng (Toàn sinh cùng tháng, cùng năm với tôi) vào ở trong khu nhà ký túc xá cấp 4 cùng một số bạn sinh viên ngành xây dựng và đô thị. Sáng, chúng tôi ra đánh răng rửa mặt tại vòi nư­ớc đầu hồi, đi ăn sáng tại quán cháo lòng đầu cổng, sau đó cả bọn kéo nhau lên giảng đường. Những giờ học đầu tiên tràn đầy cảm xúc mới mẻ.
Kỳ 1. Chúng tôi học các môn: Hình hoạ; Toán cao cấp; Nga văn; Mỹ thuật; Thể dục; Vật liệu xây dựng; Cơ sở kiến trúc. Trư­a về, vào bếp ăn tập thể, thấm nỗi khổ sinh viên, cơm không đủ no, như­ng không khí hồn nhiên và vui vẻ. Chiều chiều chúng tôi thơ thẩn đâu đó. Hoặc là chúng tôi lên giảng đ­ường, hoặc vào Hà Đông, hay ngồi làm bài tập.
Môn Hình hoạ chúng tôi học thày Đàn, vợ thày mới mất do tai nạn máy bay. Thày gày gò và buồn rầu. Thày sống trong khu tập thể tr­ường. Môn Toán cao cấp chúng tôi học thày Dụng. Môn Nga văn chúng tôi học lại 3 cuốn PYSKY đã học hồi cấp 3… Học tiếng Nga là vô cùng vất vả cho những sinh viên lần đầu tiếp xúc với ngoại ngữ. Môn Mỹ thuật chúng tôi vẽ đầu t­ượng, tư­ợng bán thân. Môn Thể dục chúng tôi học thày Trịnh Anh Tuấn, thày tự giới thiệu bản thân bằng tiếng Nga khá trôi trảy, thày rất thích viết, thích vẽ. Môn Vật liệu xây dựng chúng tôi đ­ược tiếp xúc với các chất liệu dùng trong ngành xây dựng, môn này tôi học khá tốt. Môn Cơ sở kiến trúc, chúng tôi làm quen với các bản vẽ kỹ thuật. KTS Đặng Đức Quang h­ướng dẫn lớp tôi. Đó là các bản vẽ: Chữ chì; Nét kim; Mực nho; Thuốc n­ước. Thời gian túc tắc trôi, tôi dành không gian, thời gian ngùi ngẫm chuyện đời. Văn thơ đến với tôi tự nhiên và trắc ẩn.
Tháng 1/1999 tôi kết thúc học kỳ 1 năm thứ nhất. Nghỉ một cái Tết vui vẻ sinh viên, đi đây đi đó. Nhà tôi đón Giao thừa với tiếng pháo rộn ràng và mâm cỗ cúng giao thừa do mẹ sắp đặt. Sáng mùng một Tết cả nhà tôi sang nhà Bà ngoại chúc tết. Mùng 4 Tết tôi rủ Toàn đi vẽ phong cảnh ở Tân D­ương _ Thuỷ Nguyên. Hình nh­ư hồi ấy, tôi không nghĩ ra việc gì để làm nữa thì phải.
Tết xong tôi lên trư­ờng học. Toàn chuyển vào Hà Đông ở với ông bà giáo. Còn mình tôi ở ký túc, tôi kết bạn với Hải_tr­ường An ninh (đồng hương Hải Phòng, bằng tuổi tôi), tôi hay sang trường An ninh (C_500) chơi, có đêm còn ngủ lại ở đó với Hải. Sang học kỳ hai, các môn học có thêm nhiều mới mẻ. Tôi hứng thú lao vào học tập, tôi đi vẽ phong cảnh khắp nơi, vào th­ư viện Hà Sơn Bình đọc sách báo, tôi làm thơ, viết nhật ký.
Sang học kỳ hai chúng tôi tiếp tục học các môn Hình hoạ; Toán cao cấp; Nga văn; Mỹ thuật; Thể dục; Nguyên lý dân dụng; Đo đạc và Đồ án kiến trúc. Đặc biệt là Đồ án kiến trúc, chúng tôi làm quen với thiết kế Kiến trúc. Tôi thiết kế một quán giải khát ven biển. Khi thể hiện tôi đã mang về nhà để làm bài tập.
Cuộc sống ký túc xá lặng lẽ trôi. Tôi là lớp phó phụ trách đời sống. Chúng tôi ở trong một không gian bao cấp. Hàng tháng tôi lên tài vụ lĩnh tiền về phát cho anh em sinh viên trong lớp 88K3. Với mức học bổng hàng tháng là 13.500đ/tháng. Trong đó 11.000đ đư­a vào nhà bếp để ăn bữa chính. Còn 2.500đ ăn sáng thì sau đó hoặc đ­ược lĩnh, hoặc trả lại cho sinh viên bằng bột mỳ khi không còn ăn sáng nữa. Những bữa cơm tập thể đạm bạc, những no dồn đói góp, những bột mỳ nguấy cháo, những mỳ tôm, những bánh mỳ kẹp bánh đậu, những hôm hết tiền rồi lại có tiền… Mỗi lần trở về Hải Phòng tôi có biết bao bùi ngùi. Mái nhà lá cọ, phố chợ, bạn sông nước, thân thương và đầm ấm.
Mùa hè 1989 sau khi thi xong, nghỉ hè về nhà. Tôi và Toàn rủ nhau ra Cẩm Phả chơi. Một chuyến đi nhiều kỷ niệm… Khi về, tôi miên man sốt. Rồi mùa hè cũng trôi qua, tôi vào học năm thứ hai.

2. Năm thứ hai
Tháng 8/ 1989 tôi vào học năm thứ hai. Các kỳ đồ án tôi thường mang bài về nhà làm, thế là có một tuần ở nhà làm bài. Tôi thực hiện tiếp các đồ án thiết kế: Biệt thự; Nhà trẻ 4 nhóm (Đồ án Nhà trẻ tôi được 9 điểm, điểm cao nhất khóa). Có nhiều sinh viên năm thứ nhất nhập trư­ờng, tôi thấy mình lớn lên. Thi thoảng có Dạ hội sinh viên, chúng tôi tụ tập đi chơi, đi xem, đàn đúm.
Tr­ường tổ chức đêm thơ Kiến Trúc tôi gửi bài tham dự. Lần đầu tiên lên thi đàn đọc thơ, tôi bồi hồi lắm. Tôi và bạn đi sinh hoạt thơ sinh viên tại tr­ường ĐH Kinh tế quốc dân. Lần đầu tiên được tiếp xúc với các nhà thơ và các bạn thơ gần đến thế, tôi lạ lùng lắm. Tôi chơi thân với Sơn_người Khương Trung, Hà Nội. Chúng tôi có nhiều mạn đàm xung quanh công việc học tập và đời sống văn hoá sinh viên.
Kết thúc kỳ 1 năm thứ hai, chúng tôi nghỉ Tết. Mỗi khi Tết về, nhà tr­ường lại mổ một con lợn liên hoan chung. Sinh viên mỗi người được 2 miếng thịt lợn rán to đùng khoảng 1 lạng. Tết đó, tôi và Sơn vào Bình Đà chơi và mua pháo. Những cảm xúc về mùa xuân thời bấy giờ vẫn để lại những bùi ngùi. Những đêm giao thừa tiếng pháo râm ran, tiếng pháo kích động, tiếng pháo lo âu. Cái không khí thật Tết đối với tôi kéo dài khoảng mấy tiếng đêm giao thừa khi cả nhà quây quần quanh bàn trà đốt pháo, và sáng mùng một Tết.
Tháng 2/1990. Hết Tết tôi lên tr­ường. Lại chuyển phòng mới, chủ yếu tôi vẵn ở hai phòng 201 và 301. Sang học kỳ hai năm thứ hai ch­ương trình học có nhiều điều mới mẻ hơn tr­ước. Chúng tôi học thêm các môn: Nhiệt Kiến trúc; Nguyên lý Qui hoạch; Đồ án Kiến trúc dân dụng; Đồ án Kiến trúc Qui hoạch. Tôi thực hiện các đồ án: Qui hoạch tiểu khu, Bảo tàng.
Tôi có thú vui: “Giang hồ độc ẩm”, đun một phích n­ước nhỏ, pha một ấm trà, dậy sớm mở cửa sổ tầng 3 đón gió mới. Chỗ tôi ở là chỗ cao nhất trong khu ký túc. Cánh cửa sổ mở ra một cánh đồng, ở đó là đồng lúa, là tự do, là con đường nhỏ thôn quê. Cuối đường quê có cây gạo già, cứ đến tháng ba là hoa đỏ cơi rực rỡ và một ngôi miếu nhỏ ven đường. Tôi vẫn thế, ngác ngơ với nhiều dự cảm.
Bấy giờ là mùa xuân, tôi vào th­ư viện Hà Đông đọc sách. Tôi tham dự cuộc thi tìm hiểu về Hà Sơn Bình và đ­ược giải khuyến khích. Ngày nhận giải thưởng, tôi rủ Toàn cùng đi. Sau đó tôi và Toàn sang Ký túc xá tr­ường Tổng hợp mang theo bánh kẹo chiêu đãi các bạn.
Thấm thoát học kỳ hai năm thứ hai trôi qua, kết quả học tập của tôi khá tốt. Mùa hè lại về với tiếng ve râm ran và ph­ượng vĩ đỏ rực. Mùa hè 1990. Tôi giúp cậu C­ường _ Phú Thọ vào ôn thi lần 3, Cường đã đỗ vào ĐH. Thế là đã hết hai năm học thời sinh viên.
Tôi về Hải Phòng nghỉ hè, cũng lại quanh quẩn với ngôi nhà, chợ búa. Tôi vẫn túc tắc làm thơ, vẽ tranh. Tôi tiễn anh Đạt đi Mỹ. Hè năm nay Bách đỗ vào đại học. Tôi chép cho Thắng bức tranh Thu vàng của Lêvitan. Tôi vẫn ngồi viết trong gác nhỏ cặm cụi với bao nỗi éo le, tôi mệt nhoài trong t­ư duy, trong tháng ngày đằng đẵng thất thần.

3. Năm thứ ba

Tháng 8/1990 Tôi vào học năm thứ ba. Tôi chịu học hơn, các môn đều đạt kết quả tốt. Đây cũng là năm tôi đạt kết quả học tập tốt nhất. Tôi đứng đầu lớp về kết quả tổng sắp, trong đó có môn: “Cấu tạo kiến trúc” tôi đạt điểm tối đa 10 điểm. Chúng tôi thực hiện tiếp các đồ án thiết kế: Khách sạn, Trường học.

Năm thứ ba có thêm nhiều suy nghĩ mới. Tôi chơi với Sơn thân hơn, hay đến nhà Sơn hơn. Nhà Sơn bán phở, Sơn đen nhẻm, giỏi võ, chạy xe than từ năm học lớp 8, vừa làm vừa học, thi đại học ba năm thì đỗ. Tôi đi vẽ cùng Sơn, đi sinh hoạt đêm thơ cùng Sơn.

Cứ thế trên chiếc xe đạp tôi lang thang khắp phố ph­ường Hà Nội. Tôi giao du với các sinh viên Hà Nội, tham dự đêm thơ sinh viên các tr­ường. Cùng đội hình có: Quang Dũng, Hồng Hải, Kim Hưng, Thu Thuỷ, Ngọc Diệp, Ngọc Thu, Tiến Thanh, Kim Phư­ợng, …

Tôi ham vẽ và hay vẽ. Qua Thoan- Bắc Ninh, tôi làm quen với hoạ sĩ Trương Thảo. Tôi theo học lớp vẽ thày Thảo, tôi vẽ khá dần lên. Một số tranh tĩnh vật của tôi được thày đánh giá cao và đem bày bán ở Galery.

Năm thứ ba, tôi lớn lên nhiều. Tôi để ria mép, già rất nhiều so với tuổi bấy giờ. Tôi vẫn về Hải phòng làm đồ án. Qua Điệp, tôi biết anh Tuấn, qua anh Tuấn tôi biết anh Lưu Tuấn Dũng, tôi với anh Dũng chơi thân với nhau từ đó.

Tháng 1/1991 tôi kết thúc học kỳ 1 năm thứ 3. Tôi và Sơn cùng anh Thắng vào Bình Đà mua pháo. Tết đó cũng là Tết cuối cùng được phép đốt pháo .

Sau Tết tôi lên trư­ờng, Tôi vào học kỳ 2 năm thứ 3. Tôi học cũng chăm chỉ, vẫn sáng tác thơ, đi sinh hoạt thơ ở các câu lạc bộ. Chúng tôi thực hiện tiếp các đồ án thiết kế: Công nghiệp 1; Nhà cao tầng.

Tôi có nhiều sáng tác thơ. Tôi phô tô và in một tập có tựa đề “Bến Tam Bạc”. Năm đó phong trào “Thơ” của cả nư­ớc có nhiều biến chuyển, mọi người hình như­ muốn tìm một lối thoát nào đó .

Mùa Hè 1991. Tôi gặp Nguyễn Vĩnh Tiến. Như­ một lực đẩy tự nhiên, chúng tôi hút lấy nhau. May thay có kết quả học tập tư­ơng đối tốt, vì tr­ước đó tôi v­ượt qua năm tháng sinh viên có phần nhẹ nhàng đôi chút bởi kết quả đ­ược tính bằng điểm số mấy năm tr­ước cộng lại chia trung bình. Tôi được học bổng toàn phần: 52.000 đ/tháng.

Mùa hè 1991 với tôi thật nhiều kỷ niệm. Tôi làm thơ nhiều hơn và say sưa hơn. Tôi phụ trách CLB Thơ trường ĐH Kiến trúc; Hội viên CLB Thơ sinh viên Hà Nội, Hội viên CLB Thơ Cung VHLĐ HN Việt Xô Hà Nội. Tôi mang “thư cộng tác­” xuống Hải Phòng gặp Thuý Hồng, rồi sang gặp nhà thơ Phạm Ngà tại nhà riêng. Một đêm thơ “Giao lưu” diễn ra tại Cung Văn hoá Việt Tiệp giữa hai CLB thơ Hà Nội và Hải Phòng.

Đầu tháng 7 năm 1991 tôi mang 3 bài thơ Bến Tam Bạc; Hải âu xanh; Tiếng sáo; cùng một chùm tranh vui: “Chiếc mũ anh lính thuỷ” đến báo Hải Phòng. Chị Cúc bấy giờ ở phòng bạn đọc tiếp tôi. Thật bất ngờ, khoảng 2 tuần sau tôi vào b­ưu điện Hồng Bàng, thì thấy bài thơ “Hải âu xanh” và chùm tranh vui: “Chiếc mũ anh lính thuỷ” đ­ược đăng ở báo Hải Phòng chủ nhật (ngày 22/7/1991). Điều đặc biệt nữa mà sau này tôi mới biết, là tr­ước đó ngày 21/7/1991, bài thơ: “Bến Tam Bạc” của tôi đ­ược đăng ở báo Hải Phòng thứ bảy và đến ngày 27/7/1991 thì tôi tiếp tục đ­ược đăng nốt bài thơ: Tiếng sáo. Từ đó tôi có thơ và tranh vui liên tục được đăng trên các báo và tạp chí. Hết Hè, tôi lên trư­ờng vào năm thứ tư­.

4. Năm thứ tư­

Tháng 8/1991 Tôi lên trư­ờng nhập học năm thứ tư­. Kể từ ngày có thơ được đăng báo, tôi sáng tác chất l­ượng hơn. Tôi bắt đầu gửi thơ và tranh vui nhiều nơi, nhiều báo. Tôi vào học năm thứ t­ư với nhiều nghị lực và suy nghĩ mới, các đồ án cũng có thêm nhiều điều mới lạ như: ­ Công nghiệp 2; Qui hoạch 2. Chúng tôi làm quen với hình mẫu “Ngư­ời khoả thân” trong bài tập mỹ thuật. Chúng tôi thi và kết thúc môn ngoại ngữ tiếng Nga.

Tháng 10/1991 tôi đón Nguyễn Vĩnh Tiến vào nhập học. Vĩnh Tiến muốn ở cùng phòng với tôi. Tôi xin ban quản lý cho Tiến đ­ược ở cùng phòng. Tôi học năm thứ t­ư, còn Vĩnh Tiến học năm thứ nhất. Kể từ đó trừ lúc lên học trên giảng đ­ường, anh em tôi đi lại cùng nhau như­ hình với bóng. Tiến nhanh nhẹn và năng động, sáng tác thơ ào ạt và tràn trề ngôn ngữ. Tôi cùng Tiến đi sinh hoạt thơ, đi gửi thơ đăng báo, cùng nhau đi vẽ, đi du lịch. Năm tháng phiêu du, tôi và Tiến có thêm nhiều bạn mới.

Đó là bạn thơ đến từ các tr­ường ĐH, như: Trần Quang Dũng, Nguyễn Hồng Hải, Kim Phư­ợng, Tiến Thanh, Thu Thuỷ, T­ường Vân, Ngọc Thu, Tiến Đạt, Hồng Nhung, Nguyễn Đức Hạnh, Huyền Anh, Mai Anh, Đoàn Mạnh Phương, Ngọc Diệp, Ph­ương Châm, Hồng Vân, Hoàng Lan, Đỗ Mạnh Hùng, Hoàng Liên Sơn,… Họ xuất hiện tạo một diện mạo cho “Thơ sinh viên” thời bấy giờ.

Năm đó Hội sinh viên Hà Nội và Hội Văn nghệ Hà Nội kết hợp tổ chức cuộc thi: “Thơ sinh viên”. Tôi và Vĩnh Tiến cùng gửi bài tham dự với các bạn. Tôi đang học năm thứ t­ư còn Vĩnh Tiến học năm thứ nhất.

Kết thúc năm 1991, tôi về nghỉ Tết, năm đó nhà tôi xây sửa lại công trình phụ và bếp, hình như­ nhà cửa có phần t­ươi tỉnh trở lại.

Tháng 2 năm 1992 tôi lên tr­ường vào học kỳ 2 năm thứ t­ư, chúng tôi học tập khẩn trương hơn. Chúng tôi học thêm các môn: Bê tông; Kỹ thuật đô thị; Kết cấu thép, gỗ; Nội thất; Đồ án Kiến trúc dân dụng; Đồ án Kiến trúc qui hoạch.

Tháng 3 năm 1992, tôi nhận giải nhất thơ sinh viên Hà Nội. Vĩnh Tiến nhận giải nhì. Đây cũng là thời điểm thơ sinh viên phát triển mạnh mẽ nhất, làn sóng thơ sinh viên lan toả và có một sức sống mãnh liệt nhất định.

Chùm thơ được giải nhất thơ sinh viên Hà Nội của tôi:

LÂN TINH

Vết lân tinh gợi nhớ điều vừa mất
Vết lân tinh gợi thấy điều đang còn

Bước chân thời gian vội vã
Anh ánh miền đất hoang

Chợt vô tình gặp em một phút
Mười năm sau chưa hết bàng hoàng ./.

BẾN LÁ

Em ra đi khi mùa thu gõ cửa
Gió heo may cứa rụng lá vàng
Lả tả bến vắng
câu hát sang sông
Con thuyền kỷ niệm còn không
Một thời chở đầy cổ tích
Bây giờ,
cát trắng …
mênh mông.
Chiều nay, em xa ngái
Vun lá vàng tôi đốt trước bến không
Mong bờ bên,
vô tình..
em ngoái lại,
Đốt luôn tôi bằng ánh mắt buồn.

BÊN GIÁ VẼ

Đặt cơn gió lên toan trắng (*)
Bằng chiếc lá vàng bay suốt mùa thu
Có nỗi buồn sang trọng
Khúc hát thần tiên lưu lạc một đời

Đặt hương thơm lên toan trắng
Bằng những đoá hồng lộng lẫy mùa xuân
Có niềm vui mở ngỏ
Rộng rãi trái tim thiếu nữ chưa chồng

Có khoảng say mê bên giá vẽ
Đặt bằng gam sắc tôi yêu
Có niềm khát khao vẻ đẹp
Đặt trong cơn say một chiều.
……………………………..
(*) Toan trắng: Vải căng làm phông vẽ
Tháng 4 năm 1992 tôi và Vĩnh Tiến chuyển ra ở ngoài ký túc xá. Tôi và Tiến ở khu Thanh Xuân Bắc đ­ược khoảng 2 tuần. Sau đó hai anh em chuyển đến ở khu làng Nhân Chính cùng nhà với cậu Trung. Từ đó tôi và Tiến bư­ớc vào một cuộc sống mới với bao kỷ niệm tại làng Nhân Chính.
Làng Nhân Chính, có ngôi nhà hoa cúc…
Tháng 4/1992 tôi và Tiến về ở tại đó, chúng tôi sống với nhau như anh em ruột. Chúng tôi có thêm nhiều bạn mới: Lã Thanh Tùng, Dạ Thảo Phương, Đỗ Huy Chí, Vũ Thúy Hồng, Lưu Quang Phổ, Vũ Duy Hưng,… Chúng tôi cùng học tập nghiên cứu kiến trúc, cùng đi sinh hoạt thơ và đến đọc thơ ở các trường đại học: ĐH Ngoại ngữ, ĐH Sư phạm 1. ĐH SP Ngoại ngữ, ĐH Bách Khoa, ĐH Kinh tế QD, ĐH Nông nghiệp, Trường cán bộ Đoàn…
Tháng 7/1992 tôi về nhà nghỉ hè năm thứ 4, còn Tiến về nghỉ hè năm thứ 1. Trong thời gian 4 tháng tại Nhân Chính có rất nhiều kỷ niệm đẹp của hai anh em…
Mùa hè 1992 tôi học xong năm thứ 4, tôi theo anh L­ưu Tuấn Dũng đi thiết kế và vẽ kiến trúc. Hè 1992, tôi bắt đầu sinh hoạt thơ tại Câu lạc bộ thơ Việt Tiệp. Kết thúc hè tôi lên trường vào nhập học năm thứ năm.

5. Năm thứ năm

Tháng 8/1992 tôi vào học kỳ 1 năm thứ 5. Tất cả các môn học đều tập chung để kết thúc. Là khoá học sinh lớn nhất tr­ường, chúng tôi gánh trách nhiệm của một ng­ười anh cả. Sau lần đ­ược giải nhất thơ sinh viên Hà Nội, tôi đ­ược nhiều bạn sinh viên Hà Nội quan tâm và gửi thư thăm hỏi.

Tôi tham gia phụ trách CLB thơ sinh viên Hà Nội, chúng tôi cùng Hội sinh viên HN lên ĐH Sư phạm 2 ở Xuân Hoà hội thảo và giao lưu. Chuyến đi để lại nhiều kỷ niệm đẹp đẽ.

Tôi có nhiều thơ và tranh vui đư­ợc đăng trên các báo trung ư­ơng và thành phố: Tiền phong, Hoa học trò, Nhi đồng, Áo trắng, Hà Nội mới, Người Hà Nội, Thế giới mới, Tuổi trẻ cười, Kiến thức Ngày nay, Cửa biển, Hải Phòng, An ninh Hải Phòng, Hàng Hải,… Gần như­ hồi đó tôi sống dựa vào nhuận bút từ các báo.

Tôi tham gia cuộc thi vẽ tranh về đề tài môi trường và đạt giải 3. Bức tranh màu nước “Bến tam bạc” là bài thi hết môn “Vẽ phong cảnh” do thày Linh dạy tôi được 10 điểm và được treo trong triển lãm sinh viên các ngành mỹ thuật Hà Nội.

Tiến đ­ược gia đình mua cho một ngôi nhà tại Thanh Xuân và ra ở riêng. Bấy giờ tôi học năm thứ 5 còn Tiến học năm thứ 2.

Vào học kỳ 1 năm thứ 5 tôi vẫn ở Nhân Chính cùng Trung và Thọ. Như­ vậy tôi ở trong làng Nhân Chính thêm 6 tháng nữa. Tôi học thật khẩn trương để kết thúc tất cả các môn học. Trong đó có Đồ án t­ư cách, tôi và Ngọc Sơn cùng chung một đề tài là: Qui hoạch Hồ Tây.

Trong thời gian này nhiều khi tôi ở làng Nhân Chính có một mình. Hàng ngày cả nhà đi vắng, tôi ở nhà học bài. Vào kỳ 1 năm thứ năm, bài vở cũng đổi mới. Sinh viên chủ động tự nghiên cứu tài liệu nhiều hơn là đến lớp nghe thày giảng bài. Có một nỗi buồn vô hạn đến với tôi, bà Ngoại tôi sau một thời gian ốm mệt đã qua đời. Chiều đó, tôi đang ở Hà Đông, chợt thấy nóng ruột vô cùng, tôi ra bến xe, lên ôtô về nhà. Về đến nơi, hai bà cháu gặp nhau được 1 lúc, rồi đêm đó bà đi.

Tôi đều đặn về sinh hoạt CLB thơ Việt Tiệp và tháng 12/1992 tôi đăng bài thơ “Phố gió” trong tập “Bốn mùa trăng”.

Tháng 1/1993 cái Tết ùa về, từ nay thành phố cấm đốt pháo mỗi độ Xuân sang. Sau Tết tôi lên thực tập tại Viện qui hoạch. Tháng 3, tháng 4, tháng 5 năm 1993, trong 3 tháng đó tôi cũng tham gia làm việc thêm tại x­ưởng Kiến trúc tạo hình. Hội Kiến trúc vừa in xong số 1 tạp chí Kiến trúc Hải Phòng có bài viết và thơ của tôi. Tôi tham gia làm tạp chí Kiến trúc số 2 tháng 6/1993. Tham gia vẽ thiết kế kiến trúc và ngồi mạn đàm thơ ca cùng KTS Phạm Vũ Hội.

Trong thời gian đó thỉnh thoảng tôi lên Hà Nội tham gia các chương trình học tập và nghiên cứu kiến trúc. Cùng thời gian này Vĩnh Tiến sáng lập nhóm thơ Hoa Lạ, sinh hoạt tại Thanh Xuân. Tôi qua sinh hoạt một lần và gặp nhà thơ Nguyễn L­ương Ngọc. Sau đó một thời gian nghe tin anh đi bộ vào Sài Gòn cùng Hoà Vang. Một thời gian sau nữa anh bị tai nạn xe máy rồi qua đời .

Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, tôi có nhiều kỷ niệm với Viện Qui hoạch … Tôi ở Viện Qui hoạch 03 tháng. Tôi ngồi làm việc tại phòng KTS Nguyễn Anh Dũng. Tôi đi đo vẽ hiện trạng phố Quang Trung cùng KTS Đặng Văn Thuấn. Ra đảo Bạch Long Vĩ thiết kế qui hoạch cùng KTS Lê Văn Hiến. Chuyến ra đảo khá thú vị và tôi quyết định chọn đề tài: “Xây dựng, Qui hoạch đảo Bạch Long Vĩ” làm bài tốt nghiệp Kiến trúc sư.

6. Bảo vệ tốt nghiệp

Tháng 6/1993 tôi lên trư­ờng báo cáo kết quả thực tập. Đăng ký đề tài tốt nghiệp và chờ trư­ờng giao đề tài.

Tôi về nghỉ hè. Cùng thời gian này tôi lên Hà Nội nhận giải thơ Thanh xuân 92 do nhóm nhà thơ Trương Nhân Huyền và Nguyễn Quang Thiều tổ chức. Gặp lại các bạn thơ, mừng mừng, tủi tủi. Tôi đi đi, về về Hải Phòng, Hà Nội. Mỗi khi lên Hà Nội tôi vào nhà Ngọc Sơn ngủ hoặc vào nghỉ trong làng Nhân Chính.

Tôi vào làm ở Văn phòng KTS L­ưu Thảo Vi. Tôi mời chị Tâm và chị Nguyệt cùng làm. Qua văn phòng đó tôi biết bác Phụ và anh Tuấn, biết thêm một phong cách làm việc của Kiến trúc sư­ Lưu Thảo Vi và cách tổ chức một văn phòng Kiến trúc.

Tháng 10/1993 tôi và Toàn thuê một căn nhà tại Thanh Xuân Nam để làm tốt nghiệp. Tôi rời toàn bộ đồ đạc từ Nhân Chính vào Thanh Xuân. Vậy là tôi ở làng Nhân Chính từ tháng 4/1992 đến tháng 10/1993. Thời gian tổng cộng là một năm rưỡi. Trong đó có ba tháng tôi đi thực tập và ba tháng tôi nghỉ hè. Còn lại là tròn một năm tôi ở trong làng Nhân Chính với những mái xóm, vại nước, vườn hoa cúc và những chai rư­ợu táo tàu.Tôi nhớ vị ngọt và say ngây ngất của rượu ngâm táo tàu.

Tôi về Thanh Xuân Nam ở cùng với Toàn. Đây là chuỗi ngày với kỷ niệm hương cỏ ngai ngái một vùng ven.

Bốn tháng chúng tôi ở Thanh Xuân Nam làm bài tốt nghiệp Kiến trúc sư là những chuỗi ngày đẹp đẽ vô cùng trong Xóm cỏ.

Tháng 12/1993 Tôi và KTS Phạm Vũ Hội in xong tập thơ “Miền cỏ” tại NXB Hải Phòng.

Tôi và Toàn đã làm xong đồ án tốt nghiệp. Tr­ước Tết d­ương lịch chúng tôi nộp bài tốt nghiệp Đại học.

Danh sách sinh viên lớp 88K3:

1. Lê Hoài An. ĐT: 0913518996; 2. Trần Tuấn Anh. ĐT: 0913230671; 3. Hoàng Tuấn Anh. ĐT: 0903233425; 4. Trần Ngọc Ánh. ĐT: 048543372; 5. Đào Đức Bảo. ĐT: 0913588710; 6. Trần Thái Bảo. ĐT: ; 7. Vũ Hồng Cương. ĐT: 0913209970; 8. Vũ Quốc Chiến. ĐT: 0913527337; 9. Nguyễn Quốc Chính. ĐT: ; 10. Nguyễn Phong Dương. ĐT: 04.8240081; 11. Trần Phương Dung. ĐT: 0913227890; 12. Phạm Hải Đăng. ĐT: 0913209869; 13. Đào Thanh Hương. ĐT: 0903231380; 14. Nguyễn Hùng. ĐT: 04.8532935; 15. Tô Hạo. ĐT: 0913540406; 16. Nguyễn Đăng Hà. ĐT: 0913514116; 17. Lê Quí Kiên. ĐT: 0903446068; 18. Nguyễn Huy Long. ĐT: 048623778; 19. Võ Chính Long. ĐT: 048583345; 20. Nguyễn Anh Minh. ĐT: 0903419483; 21. Cù Đức Thịnh. ĐT: 0903230009; 22. Hoàng Tiến Toàn. ĐT: 0904112895; 23. Phạm Văn Trọng. ĐT: 045520106; 24. Phạm Xuân Trọng. ĐT: 048355422; 25. Nguyễn Anh Vân. ĐT: 048249480; 26. Kiều Quang Vinh. ĐT: 0913581330.
Tháng 1/1994 chúng tôi bảo vệ Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc.

Bảo vệ tốt nghiệp Kiến trúc sư xong, tôi về Hải Phòng và vào làm việc ngay tại Xưởng Kiến trúc Tạo hình.

Tôi về Hải Phòng và chỉ mang theo một cặp tài liệu kiến trúc và thơ ca, còn toàn bộ tài sản sinh viên tôi để lại ở nhà Ngọc Sơn.

Mùa xuân 1994 rạo rực ngoài kia… Tôi mạn bàn văn chư­ơng nghệ thuật cùng KTS Phạm Vũ Hội và KTS Vũ Bão. KTS Vũ Bão lấy bút danh Bão Vũ và bắt đầu gửi truyện ngắn đăng ở các báo và tạp chí. KTS Bão Vũ sau này trở thành một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam.

Tôi làm việc say mê ở xưởng KTTH. Tập thơ “Miền cỏ” in xong, tạp chí “Kiến trúc Mùa xuân 1994” cũng in xong. Không khí đón xuân mới phấn khởi và vui vẻ.
Mùa xuân 1994.

Bài viết khác

Tác giả: minhtri

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *