TUỔI THƠ
Tuổi thơ tôi dãy phố cổ ven sông
qua ngày đạn bom xơ xác…
1. Mùa thu 1971
Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông Tam Bạc, trong ngôi nhà cổ số 104 – phố Trung Quốc (còn gọi là phố Khách – nay là số nhà 268, phố Lý Thường Kiệt). Những ngày giữa thu, trăng rằm vừa xế, lá vàng rơi và heo may se sắt. Khu phố cổ những căn nhà cũ kỹ, phố của thương gia và người Hoa kiều. Chiến tranh đang vào thời kỳ ác liệt, bên hè phố là những hố phòng không mới đào. Không gian năm 1971, khu phố cổ và cũ Hải Phòng ngập ngụa trong bom đạn.
Với riêng tôi, mùa thu là mùa đẹp nhất trong các mùa, mùa của heo may và không gian thưa thoáng. Hình như tôi không thích mùa xuân, nhất là Tết, chốn đó ồn ào, đua đòi mệt mỏi. Mùa đông lạnh giá, còn mùa hè nóng bức. Tôi chìm trong hơi thở của mùa thu.
2. Mùa thu 1972.
Tôi lên 2 tuổi, sau khi sinh nhật tôi được hai tháng thì trận bom B52 phá sập ngôi nhà 3 tầng nhà tôi đang sinh sống. Ngôi nhà số 104 – Trung Quốc giờ đây là một đống gạch đổ nát. Cả phố đi sơ tán, khu phố lặng tờ, chỉ còn những con người kiên trì ở lại, những dân phố và tự vệ khu phố. Cả gia đình tôi sơ tán sang An Hải chỗ ông bà Hoán.
3. Mùa thu 1973.
Tôi lên 3 tuổi, tôi sơ tán tại quê An Hải. Tôi đã biết đôi điều, ký ức hiện về là những mảnh vườn, cây đu đủ, đống rơm, đàn gà, bầy chó,..
Hiệp định ngừng bắn có hiệu quả. Miền Bắc đã ngưng tiếng súng. Cả nước hướng về miền Nam và chi viện cho miền Nam. Những lời ru, bài hát trong thời gian này trong ký ức tôi ngợp không khí chiến đấu và mong đất nước sớm hoà bình, thống nhất hai miền Nam, Bắc.
4. Mùa thu 1974.
Tôi lên 4 tuổi, tôi bắt đầu biết đến nhiều thứ quanh mình. Năm 1974, ngôi nhà 104 – phố Trung Quốc được xây lại. Nhà xây tường gạch 110 phía trước. Hai bên và đằng sau dựa vào hàng xóm. Nhà lợp lá cọ, vì kèo sắt. Khi tôi về đến cửa nhà, xung quanh ngổn ngang gạch đá. Anh Thắng trước cửa năm đó 6 tuổi đang chơi kéo xe cát, còn anh Khoa hàng xóm thì mang con rối tay ra dọa tôi. Chị Bảy bên nhà với rá đồ hàng ríu rít.
Tôi bắt đầu sống với gia đình tại ngôi nhà số 104 – Trung Quốc. Ban ngày mẹ đưa anh em tôi đi nhà trẻ khu phố. Sau đó mẹ chuyển anh em tôi về nhà trẻ tại nhà máy đóng tàu sông Cấm. Mỗi sáng sớm, mẹ dắt chúng tôi đi làm. Ba mẹ con sang sông trên chiếc đò cũ kỹ. Trên đò có ông xẩm mù ca những bài não nề xin từng đồng tiền lẻ. Nhà trẻ sát nơi mẹ làm, thỉnh thoảng rảnh việc, mẹ lại vào chơi với chúng tôi và nói chuyện với cô giáo Oanh. Tôi thường được cô giáo Oanh chọn đi thi hát múa tuổi thơ.
5. Mùa thu 1975.
Giải phóng Sài Gòn, tôi lên 5 tuổi. Tôi hay lên Hà Nội chơi với bác ruột. Bác Thọ tôi công tác ở báo “Thiếu niên nhi đồng” có bút danh là “bóng nhựa”. Bác Thanh là “bút thép”. Ba tôi đèo tôi bằng chiếc xe đạp khung dựng đi chơi khắp Hà Nội. Tôi còn nhớ có lần qua đường Láng, không may bàn chân bị kẹp vào bánh xe, phải lấy dầu cao xoa bóp mãi. Tôi thuộc lòng bài thơ “Thăm tàu chú Hải quân” và hay bị các cô chú, anh chị trong trường Bồi dưỡng cán bộ Đoàn Trung ương, (nơi bác Thanh dạy học và ở trong căn nhà tập thể cùng anh Giang) yêu cầu đọc cho nghe.
Về Hải Phòng, tôi sang học mẫu giáo Mixô – đường Lý Tự Trọng, để ba tôi đưa đón cho tiện với công việc, bấy giờ ba tôi là cán bộ Công ty Công trình thuỷ Hải Phòng.
6. Mùa thu 1976.
Tôi lên 6 tuổi, tôi hay sang nhà bà ngoại ở phố Cát Dài và ở bên đó với bà cùng các dì và cậu út. Tôi đi học lớp mẫu giáo của Công ty Công trình thuỷ ở đường Đà Nẵng do dì Hoà làm giáo viên. Từ nơi sơ tán tại chợ Giải – Kim Thành – Hải Dương, ông Nội tôi đạp chiếc xe Sô lếc về ở cùng gia đình. Ông bán mũ tại chợ Sắt, về nhà ông đặt máy khâu và tủ vải tại nhà. Ông hay dắt tôi ra chợ Sắt chơi, mua quà cho tôi ăn, đưa tôi đi đây, đi đó thăm bạn hàng.
Hồi đó những hộ làm ăn cá thể bị kỳ thị nặng nề. Có lần buổi sớm tôi ra đầu phố mua một nắm xôi, vừa đưa tiền cho bà bán xôi, chưa kịp cầm nắm xôi thì cả chõ xôi bị bắt chở lên xích lô mang về trụ sở.
Hai bác Thọ Thanh và anh Giang chuyển vào sống và làm việc trong Sài Gòn. Bác Thọ làm Giám đốc Nhà xuất bản Măng Non, còn bác Thanh làm ở UB Thiếu niên nhi đồng thành phố. Hai bác quí anh em tôi lắm. Gia đình tôi thường được hai bác gửi cho rất nhiều quà miền Nam, trong đó đặc biệt phải kể đến những cuốn truyện thiếu nhi mới tinh và thật đẹp, thật hay.
7. Mùa thu 1977.
Tôi lên 7 tuổi, tôi vào học lớp vỡ lòng tại trường tiểu khu. Cô giáo Thanh chủ nhiệm. Ngày đầu tiên đi học, mỗi đứa bé một cặp sách, bảng đen phấn trắng, vở ô ly và bút chì. Cô giáo điểm danh và sắp xếp chỗ ngồi.
Viết từng chữ phấn trắng lên bảng đen, viết từng nét bút chì lên vở ô ly giấy trắng. Đọc và học đánh vần, học thuộc bài thơ ngắn. Những kỷ niệm ban đầu ngây ngô và đẹp đẽ.
Người Trung Quốc bắt đầu về nước, hàng hoá bày bán ngợp phố. Bác Tâm lấy chồng người Hoa, cho nên cũng theo chồng về Trung Quốc.
Ông nội tôi vẫn bán mũ ở chợ Sắt, tình hình buôn bán thật khó khăn. Ông đưa việc về cho cả nhà làm thêm. Buổi tối, cả nhà quây quần quanh ngọn đèn dầu làm mũ. Mùi vải, mùi crếp, tiếng máy khâu rộn ràng đến khuya. Những hôm trời nóng, mất điện, chúng tôi kê gường gấp ra vỉa hè nằm ngủ. Nhìn lên bầu trời sao xa xăm, anh Khoa kể cho chúng tôi nghe những câu truyện ma ly kỳ, rùng rợn, vậy mà đứa nào cùng háo hức đợi đến đêm sau nghe tiếp.
8. Mùa thu 1978.
Tôi vào học lớp 1 tại trường Hoàng Văn Thụ. Cô Ngữ làm chủ nhiệm, tôi học ngoan và khá, tuy nhiên chưa có cơ hội gì để phát tiết khả năng của mình cả. Thời gian này ông nội tôi vào Sài Gòn sống cùng bác Thanh, Thọ và anh Giang.
Người Trung Quốc tiếp tục về nước, họ bán thống bán tháo tất cả những gì có thể bán được. Nhà cửa bán được thì bán, không thì họ cũng bỏ không đấy để đi về nước. Các bạn Trung Quốc hàng xóm nhà tôi lần lượt ra đi. Những cuộc chia ly, biết bao giờ mới gặp lại nhau,…Những người Trung Quốc ở lại thì chịu số phận hẩm hiu, hắt hủi và miệt thị. Phải khoảng 10 năm sau, tức là vào năm 1988, họ mới hồi lại, và yên tâm với vị trí của mình trong xã hội, họ bắt đầu vươn lên. Và 10 năm sau nữa tức là năm 1998, họ thành công và vinh quang. Như vậy sau 20 năm từ sự kiện người Hoa tại Việt Nam, quan hệ hai nước hoàn toàn bình thường, và người Hoa đã thật thân thiện với người Việt.
9. Mùa thu 1979.
Tôi vào học lớp 2, tôi đi thi học sinh giỏi toán toàn Thành và được giải nhất. Trong lớp, tôi và bạn Phượng A luôn giành thứ hạng nhất nhì lớp.
Cô giáo Thời chủ nhiệm lớp tôi hồi đó còn rất trẻ, có lần cô lai tôi đi học ôn học sinh giỏi bằng chiếc xe đạp khung dựng của cô, cô lại mua cả bánh mỳ ba tê cho hai cô trò cùng ăn nữa. Tôi đã lên chín tuổi, buổi sớm tôi đã có thể dậy từ tờ mờ sớm để đi xếp nốt đong gạo, bo bo, đại mạch của mậu dịch theo tiêu chuẩn. Đây là thời chiến tranh phía Bắc chống Trung Quốc, nhà trường phải đào giao thông hào và hố phòng không. Không khí thời chiến một lần nữa rầm rập vào thành phố. Khi đi thi học sinh giỏi toán quận, tôi thường gặp Tâm Đông và Mạnh Cường từ lớp 2A Trường Hồng Bàng đi thi. Vào đội tuyển thi toán toàn Thành, Tâm Đông và Mạnh Cường cùng ôn thi với tôi.
10. Mùa thu 1980.
Tôi học ôn lớp 3 của cô Kiên – trường Hồng Bàng. Hè 1980, ông Nội tôi đột ngột mất sau một cơn cao huyết áp. Cả tháng nghỉ Hè, tôi ngừng ôn thi vào lớp chuyên và vào Miền Nam viếng ông Nội .
Vào miền Nam, lần đầu tiên tôi vào Sài gòn. Năm 1980, nghĩa là 5 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Một tháng sống trong Sài Gòn, bao nhiêu kỷ niệm trẻ con. Tôi nhớ những gói túi sinh tố, những gói kem, cốc trà đá, ti vi, tủ lạnh, sách vở, đồ chơi, phòng tắm, xí bệt, nồi cơm điện, hoàn toàn mới mẻ với một cậu bé miền Bắc. Tôi được đi chơi Thảo cầm viên, đi xích lô máy, đi xem ca nhạc, chơi với chú chó Tô tô. Con hẻm trước chùa Vĩnh Nghiêm, gần cầu Công Lý là một kỷ niệm trẻ con đẹp đẽ.
Vào năm học mới, đến nơi học, trường mới, lớp mới, bao điều mới mẻ. Trường xa nhà hơn, đi học khó hơn. Do có chương trình cải cách tôi không học lớp 3 mà được tính luôn là lớp 4. Tôi học lớp 4 – cô Kim Dung dạy. Do đạt giải nhất toán toàn thành, tôi đã không phải thi tuyển, mà được đặc cách vào thẳng lớp 4. Vào học lớp 4, tôi liên tục xếp thứ nhất hàng tháng và trong toàn năm học. Bây giờ tôi học cùng lớp với Tâm Đông và Mạnh Cường, ngoài ra còn rất nhiều bạn mới nữa. Có thể nói việc được chuyển sang học ở trường chuyên là một cơ hội may mắn và là một bước ngoặt lớn trong đời học sinh của tôi. Tròn 10 tuổi, học lớp 4 trường chuyên, những kỷ niệm ngày ấy xao xuyến mãi trong lòng tôi .
11. Mùa thu 1981
Tôi học lớp 5 do cô Mỹ Dung chủ nhiệm. Đây cũng là năm học đỉnh cao về môn toán trong thời học sinh của tôi, tôi học môn toán rất khá. Năm đó sau khi đi thi thành phố được giải ba toán vòng một, rồi giải nhì toán vòng hai, tôi được vào đội tuyển đi thi toán toàn quốc. Học ôn toán toàn quốc, rồi đi thi, tôi được giải nhì toán toàn quốc, không có giải nhất. Vinh quang đến tràn trề niềm vui, nhưng ngẫm lại cũng trong thời gian này tôi bị ngã đập đầu mấy lần rất đau cho lên thần kinh đôi khi bị chấn động. Cô chủ nhiệm có khuyên: Có khi bơi vượt được biển lớn, nhưng không cẩn thận lại chết tại ao hồ nhỏ. Nếu như không làm chủ được thần kinh và tinh thần không vững vàng thì rất nguy hiểm trong sử lý tình huống cuộc sống.
Thời gian sâu sắc nhất là tôi học tập huấn đội tuyển đi thi toán toàn quốc. Thày giáo giỏi cấp thành phố tham gia giảng dạy có thày Lâm (sau này là nhà văn Vũ Hoàng Lâm), thày Nhân, thày Hùng, thày Hạnh, cô Nga, thày Thường (trường Hồng Bàng cử thày Thường phụ đạo cho riêng tôi tại nhà riêng của thày). Lớp học trong ngôi nhà cấp 4, trước cửa lớp có cây gụ hoa thơm mùi thơm học trò. Đội tuyển có: Hoàng (lớp trưởng), Hạnh, Anh Minh (tôi), Dân, Dũng, Giang, Khánh, Qui, Ông Văn Hà, Kim Loan, Hiệp.
Hôm tôi đi dự Hội nghị biểu dương và phát phần thưởng học sinh giỏi thành phố tại Nhà hát lớn, tôi được vinh dự là một trong ba học sinh có thành tích cao trong năm, lên đọc bài phát biểu trước hội nghị. Lên sân khấu, tôi đứng thấp hơn bục. Thày giáo phụ trách sân khấu phải kiếm một cái ghế và bế tôi đứng lên phát biểu cho vừa tầm micrô làm cả hội trường cười ồ, ngượng quá đi mất… Ôi, tuổi thơ ơi.
TUỔI THƠ
Tuổi thơ tôi dãy phố cổ ven sông
qua ngày đạn bom xơ xác
những bức tường đổ nát
ám ảnh chuyện ma
Tuổi thơ tôi con đò cũ kỹ
sang sông mỗi chiều
tiếng hát xẩm ông già mù thổn thức
có vơi lòng sông nước bao nhiêu
Tuổi thơ tôi cô bạn gái Hoa kiều
bím tóc đuôi sam tinh nghịch
có buổi chiều chia giọt nước mắt
có con thuyền trăng sa bến đá mưa dầm
Tuổi thơ tôi tấm áo ba nắng gió
dầu mỡ vào ca con nước thuỷ triều
vành nón mẹ trưa hè hút hắt
dáng con tàu lên đà liêu xiêu
Tuổi thơ tôi cánh phượng hè phố
cuốn vở học trò cất đâu rồi
chiều nay có một tôi ngơ ngác
nhìn tuổi thơ mình
trong trang giấy gập đôi.
Minh Trí