Mái trường mến yêu

Mái trường mến yêu

Tìm trở về mảnh đất cũ thương yêu

một dòng sông, con nước triều ngấm mặn

tuổi trăng rằm khắc tròn trên bến sóng

mái trường xưa, sân nhỏ ngả màu rêu…

Thời cấp 2

12. Mùa thu 1982

Tôi vào học lớp 6 – Trường Hồng Bàng, thày Thường làm chủ nhiệm. Lớp trên tầng 2 khu gần phòng giáo dục quận. Mùa hè 1982, tôi theo học lớp cờ vua đầu tiên dành cho học sinh giỏi thành phố theo chương trình của Sở Giáo dục Hải Phòng. Lớp học ở trung tâm GDTX TP, do ông Bích giảng dạy. Trong lớp cờ vua hồi đó, có bạn Kim Loan, sau này trở thành kiện tướng cờ vua cấp quốc gia.

Tôi học lớp 6A- lớp chuyên toán. Tôi được chọn làm chi đội trưởng kiêm lớp phó học tập. Tôi học các môn: Toán; Văn; Lịch sử; Sinh vật; Vật lý; Hoá học; Thể dục; đặc biệt các môn: Nga văn (cô Mai dạy); Âm nhạc (Cô Trì dạy); Mỹ thuật (thày Bích dạy).

Thày Thường rất nhiệt tình với lớp 6A. Khối cấp 2 chuyên toán có các thày: Thày Nguyên, Thày Long, Thày Thường. Thày Khải (Hiệu phó), thày Đễ (Sở Giáo dục) tham gia giảng dạy đội tuyển toán lớp chúng tôi. Nhà trường phát động phong trào đọc và giải các bài toán khó trong tạp chí Toán học và Tuổi trẻ, chúng tôi hào hứng tham gia.

Một sớm mùa hè, sau trận mưa đêm, trên bàn học của tôi tại lớp có một con chim sẻ non không may rớt trên cành xuống. Tôi đem về nuôi trong một chiếc gáo dừa lót rơm và đặt tên là Chích. Tôi bắt cào cào và đút cơm cho chim ăn, đặt tổ chim cạnh đài bán dẫn cho ấm. Con chim quấn lấy tôi, nó đã đủ lông cánh, biết bay, nhưng không bay ra khỏi nhà, nó đã trở thành một thành viên của gia đình.

Mùa hè 1982, tôi tham dự lớp tập huấn Nghi thức Đội tại trại hè Thiếu nhi Đồ Sơn. Đó là những ngày thật đẹp của tuổi học trò với các đội viên: Thanh (trường Hoàng Văn Thụ); Minh_Kèn, Yến, Giang (trường Đinh Tiên Hoàng); Hạnh (trường Trại Chuối); Thành (trường Hạ Lý); Minh_Trí (trường Hồng Bàng); Quang (trường Đoàn Kết); Dương (trường Nguyễn Bá Ngọc); Trang (trường Phan Bội Châu);… cô Yến phụ trách đoàn quận Hồng Bàng.

13. Mùa thu 1983

Tôi học lớp 7A – Trường Hồng Bàng, thày Thường tiếp tục chủ nhiệm lớp tôi. Đại hội chi đội trường Hồng Bàng, tôi được bầu làm liên đội trưởng trường Hồng Bàng kiêm chi đội trưởng lớp 7A. Liên đội trường tôi mang tên Kim Đồng, còn chi đội lớp tôi mang tên Nguyễn Bá Ngọc. Chúng tôi tổ chức xuống lớp 3A phụ trách sinh hoạt Sao nhi đồng. Sao tôi phụ trách có 4 em, bây giờ các em lớn và trưởng thành lắm rồi.

Điện thoại học sinh lớp cấp 2 bây giờ :

Hà: 031.3950843

Hạnh:

Kỳ: 0913576294

Thi:

Dương: 0913246990

Quang: 031.3827416 – 0913246478

Trường Minh: 0913026554

Bảo:

Anh Cường:

Thư:

Hoàng Lan:

Chung:

Hằng:

Hưng: 0912235020

Mạnh Cường:

Uyên Minh: 0903462227

Công: 031.3728495 – 0904022899

Quang Cường: 031.3822548 – 0903225582

Ngọc Anh: 630437 – 0913329283

Phi Hùng: 031.3824590 – 0903493299

Khanh: 031.3823553 – 0913041410 – 0912493299

Kiều Anh: 031.3827603 – 0913020247

Thắng: 031.3746599 – 0193241234 – 0953341234

Hồng: 031.3510243 – 0903480858

Anh Minh: 031.3746088 – 0903419483

Thuý: 031.3951781 – 0913242210

Yến: 08 8267212 – 0913718017

Bách: 0913535678

Chu Lan Phương: 031.3745929

Tuấn: 031.3745771 – 0913240303

Hương: 0908470442

Thuỷ: 04.5654592.

Lớp 7A nằm trong một căn phòng cấp 4 ngay cổng trường. Đi học, học sinh mang theo cơm để ăn trưa. Chiều vào học tiếp đội tuyển toán. Thày giáo nhiệt tình giảng dạy, mà học sinh chưa thực sự cố gắng học tập. Chế độ học hành chưa hợp lý, bạn Mạnh Cường có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, phải nghỉ học.

Buổi trưa, tôi thường vào nhờ bếp than của ông bảo vệ nhà trường đặt nhờ cặp lồng cơm cho nóng. Tôi đã biết bơi, biết đi xe đạp. Ba mẹ mua cho tôi một chiếc xe đạp khung dựng để đi học. Sáng thứ 2 đầu tuần, toàn trường có tiết chào cờ, tôi được phân công đại diện cho học sinh toàn trường lên đọc lời hứa đội viên trước cờ.

14. Mùa thu 1984

Tôi học lớp 8, lớp chuyển lên tầng 2 nhà chính, đội tuyển toán vẫn tích cực học tập, nhưng hầu như trong thời gian qua kết quả thi tuyển thành phố không cao. Ra Tết thày Thường không chủ nhiệm lớp nữa. Tôi và Thi (con bác Chi) đến học thêm môn toán tại nhà thày Khải. Đây cũng là quãng thời gian tôi và Thi có những kỷ niệm thật đẹp tuổi học trò. Cô Nga vào chủ nhiệm lớp tôi, cô dạy môn Vật lý. Tôi và Quang Cường vào đội tuyển đi thi toán toàn quốc. Tập huấn và đi thi toàn quốc xong, tôi trở về lớp học, thày Nguyên và thày Khải lên dạy toán lớp tôi.

Thời gian dự tập huấn đội tuyển thi toán Toàn quốc, lớp luyện thi lại được đặt tại trường cấp 2 Trần Phú. Thế là sau 3 năm, tôi được quay lại trường Trần Phú cấp hai để luyện thi toàn quốc. Đội tuyển có: Loan (lớp trưởng), Hoàng Hà, AMinh (tôi), Quang Cường, Dân, Khánh, Mai, Đào Thu Hằng, Đức, Hải, Khánh, Ông Văn Hà. Thày giáo có các thày: thày Mậu, thày Hạnh, thày Nguyên, thày Hùng.

Tuổi 14, cũng là tuổi bắt đầu dậy thì của người con trai. Tiếng nói vỡ giọng, cơ thể phát triển, ăn khoẻ và cao lớn vọt lên. Tôi được vào Đoàn trong đợt kết nạp đầu tiên của khối lớp 8.

Trường Hồng Bàng cử tôi và Nguyễn Xuân Khánh (sau này là hoạ sĩ trẻ nổi tiếng, mất năm 33 tuổi tại Sài Gòn) đi thi vẽ toàn thành phố. Tôi và Khánh cùng được giải nhất.

Thi tốt nghiệp cấp 2 xong, tôi được lên thẳng cấp 3 với cả 3 tiêu chuẩn (Chỉ cần đạt 1 tiêu chuẩn là được vào thẳng cấp 3): Học sinh giỏi 3 năm, thi tốt nghiệp trên 32 điểm; Đi thi năng khiếu (môn vẽ) giải nhất toàn thành; Là học sinh tham dự đội tuyển thi toán toàn quốc.

Tôi nộp đơn và thi đủ điểm vào Cấp 3 Trường ĐH Tổng hợp toán HN. Nhưng sau đó tôi vào học Chuyên toán trường cấp 3 Thái Phiên.

Thời cấp 3

15. Mùa thu 1985

Tôi vào học lớp 10, tôi học tại lớp chuyên toán 10T, trường Thái Phiên. Thày Đỗ Thế Hùng chủ nhiệm lớp. Trường học thì xa, đời sống gia đình tôi bấy giờ thật vất vả. Tôi đăng ký vào đội tuyển đi thi Vật lý toàn thành. Tôi thi Vật lý toàn thành hai lần. Một lần đạt giải nhất và một lần đạt giải nhì vật lý toàn thành. Cùng đi thi Vật lý toàn thành với tôi bấy giờ có bạn Khương, học lớp 10A1 (con bác Doãn). 2 chúng tôi được thày Luyện dạy Lý quan tâm đặc biệt. Tôi chơi thân với một số học trò lớp chuyên lý trường Ngô Quyền. Sau này khi chuyển về trường năng khiếu Trần Phú, chúng bạn lại tiếp tục chơi thân với nhau.

Lớp tôi có một số bạn nhà ở Kiến An, phải sống nội trú trong nhà trường. Chúng tôi được cấp học bổng. Số tiền học bổng lĩnh được hành tháng đủ ăn một chầu bánh rán no nê. Nhà trường phát động phong trào trồng cây lấy bóng mát. Lớp tôi trồng một cây phượng, bây giờ đã cao lớn rợp bóng xanh. Nhà trường phát động đào ao lấy nước, ra đảo Đình Vũ chặt sú vẹt lấy bãi nuôi tôm, lớp tôi tham gia nhiệt tình. Tôi tham gia làm báo tường 20-11 cùng chi đoàn và thật vui khi năm đó báo tường lớp tôi đạt giải nhất toàn trường,

Môn văn tôi học khá nhất lớp, cô Mai dạy văn. Sau này khi trở thành người cầm bút chuyên nghiệp, tôi vẫn nhìn về một quá khứ văn chương tuổi học trò cần mẫn của mình. Tôi chơi thân với một cô hàng sách và tạp hoá cuối đập Tam Kỳ. Tôi nhận đóng bìa cứng, bọc sách cho cô. Những cuốn sách đó, tôi có thể đọc say sưa, thoải mái. Rằm trung thu, tôi vẽ rất nhiều mặt nạ gửi cô bán. Đóng sách, vẽ mặt nạ, tôi lại có thêm tiền giúp gia đình, tôi bắt đầu cảm nhận được đồng tiền. Làm ra tiền, tôi có tiền mua sách bút, nhưng tôi chưa hề cảm nhận được sức mạnh của đồng tiền. Quan niệm giàu nghèo vô cùng mờ nhạt, vô ý thức, chỉ biết mình khổ nhưng không thể lý do cụ thể tại sao. Tâm sinh lý và tư tưởng tôi bấy giờ có chiều bế tắc, lại thêm bệnh xoang hành hạ do tôi đi bơi vào buổi sáng quá nhiều. Lối sống quân tử kiểu sách vở thâm nhập, người tôi xác xơ.

Hè lớp 10, lên lớp 11, tôi chơi với bạn Dương (cận), Khánh (cận), hai người bạn đều có hoàn cảnh gia đình éo le. Hàng xóm có anh Đạt; bạn Bách, Thắng. Một mùa hè kết bạn với sông nước, cây cối và thể thao.

16. Mùa thu 1986

Tôi lên lớp 11, cả lớp tôi chuyển từ trường Thái Phiên về học lớp 11T, trường Năng khiếu Trần Phú, thày Hùng dạy Toán chủ nhiệm lớp. Trường gần nhà tôi hơn. Hoàn cảnh gia đình cực kỳ khó khăn, cả hai bố mẹ tôi đều nghỉ hưu về nhà làm mũ, em trai tôi thôi học, bà ngoại tôi bán mũ ở ven Hồ Tam Bạc thường xuyên bị công an đuổi không cho bán hàng. Quanh năm tôi khoác một chiếc áo lính bạc màu đi học, xa lánh với các cuộc vui. Tôi sống như cái bóng với căn gác xép cũ kỹ, một cửa sổ nhỏ trông ra vườn cây trên nóc nhà.

Đây cũng là năm tinh thần tôi bị khủng khoảng nghiêm trọng. Một màu đen phủ lên nửa cuối năm 1986, và nửa đầu năm 1987. Tôi luôn luôn ở trong tâm trạng không ổn định. Tôi ngồi học bàn gần cuối lớp, cạnh bạn Vũ và bạn Thắng.

Có những lúc tôi cảm giác mình vô nghĩa không chịu được. Cái lớp học cuối cùng trên tầng 2 dãy nhà UNIXEP ám ảnh tôi. Nhất là có lần ông bảo vệ thấy tôi, tưởng anh bộ đội hết hạn nghĩa vụ vào sân trường tìm ai, tôi già đi rất nhanh và buồn chán.

Tôi vẫn học văn giỏi nhất lớp, cô Ninh dạy văn, nhưng tôi không thể phát huy được gì vì điều đó. Hồi bấy giờ, giá như ai đó cho tôi: “chỉ một lời khuyên thôi” có khi sẽ thay đổi hẳn cuộc sống tinh thần của tôi. Đây cũng là kinh nghiệm để tôi quan tâm hơn đến cuộc sống tinh thần các con của tôi vào tuổi mới lớn sau này.

17. Mùa thu 1987

Tôi lên lớp 12, lớp học tại ngôi nhà cấp 4 gần cổng trường, bên cạnh là lớp chuyên ngoại ngữ. Không khí năm học này có thưa thoáng đôi chút. Hoàng Hà là lớp trưởng, Kim Loan là bí thư chi đoàn, tôi là phó bí thư. Tôi thường dẫn chương trình cho các đợt kết nạp đoàn viên mới của lớp. Đến hết học kỳ 1 năm lớp 12, 100% học sinh lớp tôi là đoàn viên. Là lớp học sinh lớn nhất trường, chúng tôi cũng ra dáng đàn anh đàn chị hơn. Không khí tấp nập chuẩn bị ôn thi tốt nghiệp, ra trường, và thi đại học.

Học trò lớp 12 T:

1. Kim Qui

2. Hoàng Hà

3. Kim Loan

4. Vũ

5. Hường

6. Hạnh

7. Dương

8. Khánh

9. Thuận

10. Ngọc Anh

11. Phương

12. Dũng

13. Chương

14. Bằng Giang

15. Nghĩa

16. Ông Văn Hà

17. Anh Minh (tôi)

18. Trường Minh

19. Thi

20. Thanh

21. Quang Thanh

22. Chiến Thắng

23. Văn Thắng

24. Bình Nguyên

25. Hiếu

26. Đức

27. Liêm

28. Kỳ

29. Công Dân

30. Hiệp

31. Mai

32. Quang

Thày Đỗ Thế Hùng (Sau này là Giám đốc Sở Giáo dục HP) chủ nhiệm lớp tôi dạy môn Toán. Môn Hoá tôi học thày Tuấn, môn Lý học thày Thiết, môn Sử học cô Hương, môn Văn học thày Tư. Hết học kỳ 1, tôi tập chung vào luyện Toán, Lý, Vẽ, để thi đại học Kiến Trúc. Tôi dành thời gian bày tĩnh vật ra vẽ. Học kỳ 2 là chuỗi ngày hối hả dành cho học tập và chuẩn bị thi tốt nghiệp cũng như ôn thi đại học. Tổng kết toàn năm học xong, lớp chia tay, viết sổ lưu niệm, liên hoan lớp. Sau đó chúng tôi bước vào kỳ thi tốt nghiệp cấp 3. Thi xong, tôi lên trường Đại học Kiến trúc Hà Nội ôn thi đại học .

Mùa hè 1988, tôi lên Hà Nội. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đón một cậu học trò Hải Phòng lên ôn thi. Một tháng ôn thi cấp tốc với bao kỷ niệm. Kết quả sau bao khó khăn gian khổ, tôi đỗ vào học khoa Kiến trúc trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.

Những ngày hè nóng bỏng tại Hải Phòng qua đi. Tạm biệt mái trường Năng khiếu Trần Phú mến yêu, tháng 10 năm 1988, tôi lên Hà Nội nhập học Đại học Kiến Trúc.

Mái trường mến yêu

Tìm trở về mảnh đất cũ thương yêu

một dòng sông, con nước triều ngấm mặn

tuổi trăng rằm khắc tròn trên bến sóng

mái trường xưa, sân nhỏ ngả màu rêu

Đây dáng quen trong hương gió ban chiều

mái tóc mây tan nhoà pha ráng đỏ

lớp học tan, thầy vừa ra đó

cặp kính trang nghiêm, đôi mắt rất hiền

Cứ ngỡ là trở lại tuổi hoa niên

bông phấn trắng còn vương trên vai áo

phút gặp thầy xốn xang bao kỷ niệm

những chặng đường qua đổi khác nhường nào

Cây bàng đào bật búp nõn khát khao

bao đàn em khắc tên quanh gốc

cơn mưa khắc vệt rêu lên mái cổ

nếp khắc thời gian hằn trên trán tuổi già

Có thể là năm tháng phôi pha

đàn em lớn có người không trở lại

thầy cười bao dung trong gió chiều thư thái.
lòng chợt rưng rưng

khắc lại quãng đường.

Minh Trí

(Lớp 12T, năm học 1987-1988)

Bài thơ đã đăng trong tập“Lộc biếc” của trường,

sau đó đăng lại ở tập kỷ niệm 15năm trường NK Trần Phú.

Bài viết khác

Tác giả: minhtri